1. Chào bạn Khách,
    Cùng tham gia chia sẻ xây dựng diễn đàn và nhận nhiều phần quà có giá trị nhé ! chi tiết
    Dismiss Notice

Chiếu sáng phòng học và kỹ thuật đánh giá

Thảo luận trong 'Sự cố công trình trang trí, cửa, sàn' bắt đầu bởi orion1807, 27 Tháng tám 2015.

  1. orion1807

    orion1807 New Member

    Tham gia ngày:
    26 Tháng tám 2015
    Bài viết:
    10
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    1. Vai trò của ánh sáng
    Ý nghĩa sinh học của ánh sáng đối với cơ thể con người, nhất là cơ thể trẻ em còn đang trong giai đoạn phát triển rất lớn, có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất và thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển. Tia cực tím có khả năng chuyển hoá vitamin D nằm ở dưới da về trạng thái hoạt động, đảm bảo cho quá trình kiến tạo và hoàn chỉnh xương.​
    Ánh sáng không đủ ảnh hưởng xấu tới các quá trình sinh học và sinh lý học trong cơ thể, dẫn tới giảm cường độ trao đổi chất. Các chức năng thị giác liên quan tỷ lệ thuận với cường độ chiếu sáng như: thị lực (khả năng phân biệt các vật của mắt), thời gian nhận biết (thời gian nhỏ nhất để nhận biết vật), sự ổn định thị giác (thời gian nhìn rõ vật) cảm nhận độ tương phản (khả năng phân biệt sự khác nhau giữa các độ chói xen lẫn nhau). Theo kết quả nghiên cứu, khi làm việc bằng mắt trong thời gian 3 giờ với độ chiếu sáng là 30-50 lux thì sự ổn định thị giác giảm 37%, với cường độ ánh sáng từ 200 đến 300 lux chỉ giảm 10 – 15 %.​
    Khi tiến hành các công việc trí tuệ và chân tay liên quan đến thị giác trong điều kiện chiếu sáng yếu (30 lux) thị lực học sinh bắt đầu giảm sau giờ học thứ nhất và đến giờ học thứ 5 giảm khoảng 22% so với đầu buổi học. Nếu công việc diễn ra trong điều kiện chiếu sáng là 100 lux thì thị lực từ tiết học đầu đến tiết học thứ 3 của học sinh tăng lên, sau đó giảm dần đến cuối buổi học ở dưới mức khi mới bắt đầu buổi học.​
    Mức độ chiếu sáng ảnh hưởng thực sự tới chất lượng công việc của học sinh. Khi chiếu sáng bề mặt làm việc của học sinh là 400 lux thì số lượng bài tập không mắc lỗi chiếm 74%, nếu chiếu sáng chỉ còn 100-50 lux thì số bài tập không mắc lỗi tương đương là 47 và 37%.​
    Các chức năng thị giác ở học sinh trở nên tốt hơn sau khi làm việc trong điều kiện chiếu sáng từ 250 lux trở lên​
    Độ rọi càng tốt thì khả năng làm việc bằng mắt càng cao và giảm mệt mỏi thị giác. Cải thiện điều kiện chiếu sáng sẽ làm tăng hiệu suất lao động cả về số lượng lẫn chất lượng. Theo các nhà khoa học Mỹ, khoảng 20% các tai nạn rủi ro trong sản xuất và tai nạn giao thông là do chiếu sáng kém​
    Mức chiếu sáng tự nhiên tối đa là 2000 lux. Mức độ chiếu sáng tự nhiên cao hơn sẽ ảnh hưởng không tốt tới chức năng thị giác và khả năng làm việc của con người.​
    Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có một bộ phận không nhỏ (20-30%) học sinh khi chuẩn bị tốt nghiệp bị giảm thị lực và sự giảm thị lực này chủ yếu liên quan đến tật cận thị. Cùng với tuổi, không chỉ tỷ lệ cận thị ở trẻ em tăng lên mà mức độ cận thị cũng tăng khá nhanh.​
    2. Chiếu sáng tự nhiên
    - Tổ chức chiếu sáng trong lớp học cần được thiết kế hợp lý có tính đến sự phân hoá chức năng bình thường của cơ quan phân tích thị giác và đặc điểm tiếp nhận ánh sáng về mặt tâm sinh lý. Chiếu sáng trong phòng học cần phải đủ, ổn định và đảm bảo tính đồng đều, nhằm phòng ngừa sự tái thích nghi liên tục dẫn tới mệt mỏi thị giác.​
    Do điều kiện địa lý, nước ta có tiềm năng về ánh sáng tự nhiên rất lớn, 81,5% thời gian trong năm (ứng với 4.077 giờ ban ngày), độ rọi bên ngoài nhà thay đổi từ 3.000 đến 40.000 lux (theo điều tra ở Hà Nội của Phạm Đức Nguyên). Do vậy, việc tổ chức chiếu sáng phòng học hợp lý sẽ đảm bảo cho các lớp học được chiếu sáng đầy đủ, có chất lượng và tiết kiệm được nguồn điện năng sử dụng chiếu sáng, tiết kiệm kinh phí cho các nhà trường.​
    Độ rọi chiếu sáng tự nhiên phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố: vị trí địa lý, thời gian trong năm và trong ngày, thời tiết và hướng lấy ánh sáng của toà nhà, của phòng học, bóng của các toà nhà và cây to cạnh nhà. Cửa sổ cũng đóng một vai trò rất quan trọng: thiết kế cửa sổ, hình dáng cửa sổ, hướng lấy ánh sáng, đặc điểm và độ sạch của kính, khung cửa sổ, màu của trần nhà và màu tường, thiết kế kích thước phòng học.​
    Chiếu sáng tự nhiên tốt nhất đạt được là nhờ cách bố trí ngôi nhà, bãi trống và giữ đúng khoảng cách giữa ngôi trường và các tòa nhà đối diện. Các toà nhà của trường học nên quy hoạch xây dựng cách xa các nhà đối diện để không bị che ánh sáng và cản trở ánh sáng mặt trời chiếu vào phòng học. Khoảng cách từ ngôi trường đến các tòa nhà xung quanh được phản ánh bằng hệ số che chắn. Đó là tỷ số giữa chiều cao của tòa nhà đối diện chia cho khoảng cách từ nhà đó đến ngôi trường. Hệ số che chắn được khuyến cáo là không không nhỏ hơn 1/2, tốt nhất là 1/5. Cây cối cũng nên trồng cách xa cửa sổ trên 10 mét để chúng không che cửa sổ, mùa xuân nên chặt bỏ các cành to.​
    Hướng của các cửa sổ lấy ánh sáng chính có ý nghĩa quyết định đến chất lượng chiếu sáng tự nhiên trong phòng học. Hướng Nam là hướng có ánh sáng tốt nhất. Nếu lấy quang thông vào phòng học hướng Nam là 100%, thì tại các lớp học hướng đông chỉ được 71,4 - 96%, hướng Tây 71.4 - 78%, hướng Bắc 55.5 - 61.4%. Quan sát trực xạ suốt ngày đêm cho thấy ưu điểm của hướng Nam là trong mọi mùa trong năm độ rọi đều có trị số cao, cho nên ít phải sử dụng chiếu sáng nhân tạo, về mùa đông phòng học ấm áp hơn do mặt trời nung nóng tường ngoài. Nhược điểm của phòng học hướng nam là về mùa hè ánh sáng chói chang, nhưng có thể khắc phục được dễ dàng bằng các ô văng cửa sổ.​
    Tại các lớp học có cửa số lấy ánh sáng chính về hướng Tây thì vào ca học buổi chiều, mặt trời gây khó khăn cho việc học tập ở tất cả các bàn học sinh, trên bảng có vết nắng chói chiếu vào. Tác động chói lóa của tia sáng mặt trời đưa đến giảm thị lực và độ nhạy cảm tương phản. Khi kiểm tra khả năng làm việc của học sinh ở các lớp học hướng Tây và hướng Nam, người ta thấy số lỗi của bài vở học sinh trong các lớp hướng Tây nhiều hơn trong các lớp hướng Nam.​
    Do vậy, cửa sổ phòng học nên mở ra hướng nam, đông nam và hướng đông là tối ưu nhất. Khi đó phòng học sẽ được mặt trời chiếu sáng đây đủ mà không khí trong phòng không bị nóng lên.​
    Mức độ rọi của chiếu sáng tự nhiên, ngoài hướng phòng học còn phụ thuộc vào hình dáng chung của phòng học, số lượng, kích thước và cách bố trí cửa sổ, khoảng cách giữa các cửa sổ.​
    Phòng học cần được xây dựng theo tiêu chuẩn về kích thước. Chiều ngang của phòng học không nên vượt quá 6,5 m vì nếu rộng hơn sẽ làm cho các vị trí ở sát tường đối diện với cửa sổ lấy ánh sáng có cường độ chiếu sáng thấp, có thể thấp hơn từ 4-5 lần so với các bàn kê sát cửa sổ. Các cửa sổ nên bố trí dọc theo chiều dài của phòng học. Tổng diện tích của các cửa sổ (chỉ tính phần kính) không nhỏ hơn 1/5 diện tích phòng học (người ta gọi chỉ số này là hệ số chiếu sáng). Bên cạnh đó, chiều cao của cạnh trên cửa sổ hợp lý tạo điều kiện cho ánh sáng tán xạ vào sâu, làm tăng chất lượng chiếu sáng tự nhiên trong phòng học. Chiều cao cạnh trên cửa sổ không được nhỏ hơn 1/2 chiều ngang của phòng học (người ta gọi đây là hệ số chiều sâu). Bên cạnh đó, liên quan đến chiều cao của cạnh trên và kích thước cửa sổ, người ta còn quy định góc rơi của các tia sáng không được nhỏ hơn 270, góc khoảng sáng không được nhỏ hơn 50.​
    Chiều cao của bệ cửa sổ cần phải đảm bảo cho học sinh có thể đưa mắt nhìn xa ra phía ngoài nhằm giảm căng thẳng cho bộ máy điều tiết của mắt. Chiều cao bệ cửa sổ hợp vệ sinh là khoảng từ 70-80 cm.​
    Khoảng cách giữa các cửa sổ hợp lý góp phần làm cho ánh sáng trong phòng học đồng đều hơn, nhất là ở những vị trí sát tường ở giữa 2 cửa sổ. Nên để khoảng cách giữa 2 cửa sổ từ 50-90 cm.​
    Chất lượng của chiếu sáng tự nhiên cũng phụ thuộc khá nhiều vào việc giữ gìn vệ sinh phòng học. Ngay đối với các phòng học được thiết kế phù hợp với các tiêu chuẩn vệ sinh thì ánh sáng vẫn không được đảm bảo do cửa sổ bị bám bụi, cáu bẩn làm hạn chế các tia sáng qua cửa sổ vào trong phòng, thậm chí lượng tia sáng vào trong phòng có thể giảm 30-40%. Các cửa sổ nhìn ra phố thường bị bẩn gấp 1,5 lần so với các cửa sổ nhìn vào sân. Cửa sổ tầng 1, tầng 2 bị bẩn nhiều gấp 1,5 -2 lần so với các cửa sổ tầng 3, tầng 4. Ngoài ra, bụi trong lớp học cũng làm cho cửa sổ bị nhiễm bẩn. Sau 2 tháng học sinh vào học, nhận thấy cửa sổ bị bám bụi làm giảm từ 10-20% ánh sáng. Do vậy, muốn đảm bảo chiếu sáng phòng học được tốt cần phải thường xuyên lau chùi cửa sổ.​
    Rèm cửa sổ có tác dụng cản bớt ánh sáng, khi cường độ chiếu sáng quá mạnh hoặc các tia nắng mặt trời chiếu trực tiếp lên bàn có thể làm chói lóa mắt học sinh. Rèm nên làm bằng vải, không nên dùng màn có chất liệu là polimer vì chúng có thể thải vào không khí phòng học một số chất độc và dễ cháy. Người ta khuyến cáo không nên treo rèm ở phần dưới cửa sổ hoặc để chậu hoa trên bệ cửa sổ.​
    Ảnh hưởng đến cường độ chiếu sáng trong phòng học còn phải kể đến màu sắc của trần, tường, sàn, bàn ghế và quần áo học sinh. Màu sáng sẽ làm tăng độ rọi của phòng học. Màu trắng phản xạ ánh sáng tốt hơn cả (80-90%), màu vàng tươi (60%), và màu xanh da trời (60%), màu đỏ (46%). Do đó trần phòng học nên sơn màu trắng còn tường nên sơn màu sáng.​
    Một điều cần phải quan tâm là bố trí học sinh ngồi học sao cho nguồn chiếu sáng chính phải nằm ở bên trái để tránh tạo bóng trên vở khi học sinh viết bài. Do vậy ngay từ khi xây bục giảng và treo bảng cần phải tính đến yêu cầu trên.​
    Ngoài các yếu tố kể trên, chiếu sáng tự nhiên còn phụ thuộc vào thời gian trong năm, thời tiết và thời điểm trong ngày. Về mùa đông, chiếu sáng thường thấp hơn mùa hè. Những ngày nhiều mây và mưa, chiếu sáng kém hơn những ngày nắng. Buổi sáng sớm và chiều tối ánh sáng yếu hơn buổi ban ngày. Do vậy để đánh giá chiếu sáng tự nhiên trong phòng học người ta thường sử dụng hệ số độ rọi tự nhiên. Hệ số độ rọi tự nhiên là tỷ lệ phần trăm của độ rọi ánh sáng khuyếch tán trong phòng học và độ rọi ánh sáng khuyếch tán ngoài trời được đo cùng một thời điểm và trên cùng một mặt phẳng không gian. Đây là chỉ số đặc trưng nhất cho chiếu sáng tự nhiên. Nó khá ổn định, ít thay đối theo thời tiết, khí hậu trong năm và thời điểm trong ngày. Nói cách khác, nó là chỉ số phản ánh hiệu quả tổng hợp của việc tổ chức chiếu sáng tự nhiên cho phòng học. Nhiều nước đã ban hành tiêu chuẩn về chiếu sáng tự nhiên cho phòng học theo chỉ số này (tiêu chuẩn hệ số độ rọi tự nhiên đối với phòng học của Đức là 5,0%, của Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ là 1,5%).​
    Hiện nay, chúng ta chưa ban hành tiêu chuẩn Hệ số độ rọi tự nhiên cho phòng học. Đánh giá chiếu sáng tự nhiên chủ yếu dựa vào hệ số chiếu sáng và sử dụng thiết bị đo độ rọi trong các phòng học nên không chính xác và thiếu tính khách quan.​
    3. Chiếu sáng nhân tạo
    Do ánh sáng tự nhiên ngoài trời thay đổi nhiều theo thời tiết và thời điểm trong ngày nên ánh sáng tự nhiên trong phòng học bị ảnh hưởng và nhiều khi không đảm bảo. Do vậy các phòng học phải được trang bị thêm các nguồn chiếu sáng nhân tạo.​
    Người ta đã nghiên cứu ảnh hưởng của chiếu sáng nhân tạo tới chức năng thị giác và khả năng làm việc của học sinh. Cùng một chế độ học tập, nếu độ rọi ánh sáng thấp (dưới 75 lux) thì các chức năng cơ bản của cơ quan thị giác (thị giác, độ ổn định nhìn rõ, sự điều tiết của mắt) giảm khá nhiều sau giờ học, còn đối với độ rọi từ 100-150 lux thì các chức năng này thay đổi không đáng kể. Khi độ rọi thấp thì khả năng làm việc cũng giảm, làm gia tăng số lượng học sinh bị cận thị.​
    Trong trường học, ánh sáng nhân tạo được bổ sung nhờ bố trí hệ thống đèn điện chiếu sáng. Sử dụng bóng đèn nung sáng cho chiếu sáng phòng học là loại bóng có công suất lớn (300W) sẽ tỏa nhiệt nhiều, làm tăng nhiệt độ và ảnh hưởng đến điều kiện vi khí hậu trong phòng học. Độ chói của bóng đèn nung sáng thường vượt từ 2 – 3 lần tiêu chuẩn cho phép.​
    Bóng đèn huỳnh quang có nhiều ưu điểm hơn bóng đèn nung sáng. Nó có phổ ánh sáng gần với ánh sáng tự nhiên nên tác động có lợi lên cơ quan thị giác và khả năng làm việc của học sinh. Ánh sáng khuyếch tán của đèn huỳnh quang không tạo ra bóng rõ như đèn nung sáng. Độ chói của các bóng đèn huỳnh quang không cao, diện tích phát sáng lại lớn nên có khả năng phân bố ánh sáng đồng đều trong phòng học. Bên cạnh đó, so với đèn nung sáng việc sử dụng bóng đèn huỳnh quang rẻ hơn 2 - 2,5 lần.​
    Các bóng đèn trong phòng học cần phải có chụp để tăng thêm độ sáng cho các bàn học và độ đồng đều của chiếu sáng được tốt hơn. Chụp đèn cần phải có tính chất hấp thụ ánh sáng thấp và có khả năng tán xạ ánh sáng.​
    Để đảm bảo yêu cầu về chiếu sáng nhân tạo là 300 lux (đối với đèn huỳnh quang), 200 lux (đối với đèn nung sáng), trong phòng học cần phải lắp đặt đủ số lượng đèn và công suất tương ứng, bố trí vị trí của đèn phù hợp. Tại các phòng học ở Nga, người ta quy định trong mỗi phòng học nếu sử dụng bóng đèn huỳnh quang thì cần 24 bóng 40W hoặc 12 bóng 80W, nếu sử dụng bóng đèn nung sáng thì cần 8 bóng loại 300W. Áp dụng tiêu chuẩn cũ là chiếu sáng phòng học không dưới 100 lux, Quy định về vệ sinh trường học của nước ta là mỗi phòng học cần lắp 4 bóng đèn nung sáng công suất từ 150-200 W hoặc 6-8 bóng huỳnh quang dài 1,2m. Để đảm bảo chiếu sáng phòng học không dưới 300 lux theo quy định mới, thì số lượng bóng đèn cần cho mỗi phòng học là 10-12 bóng 38 W (theo Dự án chiếu sáng học đường do Nhà máy bóng đèn phích nước Rạng đông đang triển khai)​
    Trong các phòng học, bóng đèn huỳnh quang nên lắp đặt song song với tường lấy ánh sáng và cách tường là 1,2 và 1,5 m. Công tắc cho mỗi dãy đèn được lắp đặt riêng biệt. Các bóng đèn phải được treo dưới quạt để tránh tạo ra ánh sáng nhấp nháy trên bàn học sinh khi quạt quay.​
    Bảng lớp học nên lắp bổ sung thêm bóng đèn để đảm bảo mức chiếu sáng là 500 lux. Bóng đèn được lắp song song với bảng, cao hơn bảng 30cm và cách tường treo bảng 60cm.​
    Chiếu sáng nhân tạo trong các phòng học được sử dụng như là một nguồn ánh sáng bổ sung khi chiếu sáng tự nhiên không đủ. Nhiều thực nghiệm cho thấy, khi chiếu sáng có cường độ 600lux và chiếu sáng tự nhiên chiếm ưu thế thì các chỉ số về hoạt động thị giác tốt nhất. Tỷ lệ tối ưu giữa ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo là 2:1.​
    4. Phương pháp đánh giá chiếu sáng
    Giới thiệu các loại máy đo ánh sáng và kỹ thuật đo
    Hiện nay có nhiều loại máy đo ánh sáng. Nhìn chung các máy đo ánh sáng Luxmetre được cấu tạo bằng hai bộ phận chính: tế bào quang điện và điện kế. Tế bào quang điện được làm bằng một tấm kim loại có phủ vàng và selen. Khi có nguồn ánh sáng chiếu vào tế bào quang điện biến quang năng thành điện năng và được và được hiển thị bằng số trên màn ảnh của máy hoặc đọc kết quả tương đương với vị trí mà kim điện kế chỉ vào.​
    Khi đo ta đặt ngửa tế bào quang điện trên mặt phẳng cần đo và chờ cho kim hoặc số hiển thị ổn định thì đọc kết quả. Vị trí đo, thời gian đo và số mẫu đo phụ thuộc vào yêu cầu công việc đang khảo sát. Khi đo cần tránh bóng che ngẫu nhiên để không ảnh hưởng đến kết quả.​
    Khi không đo cần phải che kín tế bào quang điện để tế bào quang điện được bền hơn.​
    4.1. Khảo sát và đánh giá chiếu sáng tự nhiên
    4.1.1. Đo đạc và tính toán hệ số độ rọi tự nhiên của phòng học
    - Sử dụng 2 máy đo ánh sáng, 1 máy đo trong phòng học và 1 máy đo ánh sáng tán xạ ngoài trời. Đọc và ghi lại kết quả của 2 máy đồng thời cùng 1 thời điểm.​
    Khi đo ánh sáng tán xạ ngoài trời cần phải che không cho ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào tế bào quang điện​
    Trong phòng học: đo tại 9 điểm: 01 điểm giữa lớp, 04 điểm ở giữa bàn học ở 4 góc, 01 điểm trên bàn giáo viên, 03 điểm trên bảng (1 điểm giữa bảng, 2 điểm cách mép trong và mép ngoài 20cm).​
    - Tính độ rọi trung bình trong phòng (không lấy độ rọi đo ở bảng) và độ rọi trung bình ở ngoài trời​
    - Tính hệ số độ rọi tự nhiên theo công thức:​

    Ke = ETBtr x 100/ETBng

    Trong đó: Ke là hệ số độ rọi tự nhiên
    ETBtr là độ rọi trung bình trong phòng học​
    ETBng là độ rọi trung bình ở ngoài trời​
    - Tính độ đồng đều của chiếu sáng tự nhiên​
    4.1.2. Đo đạc và tính toán hệ số chiếu sáng của phòng học
    - Đo đạc kích thước cửa số và kích thước phòng học​
    - Tính hệ số chiếu sáng theo công thức​
    Ka = S cửa sổ : S phòng​


    4.1.3. Tính độ che chắn
    - Đo khoảng cách từ phòng học đến toà nhà hoặc cây to đối diện cửa số​
    - Đo chiều cao của toà nhà hoặc cây to​
    - Tính hệ số che chắn​
    4.1.4. Tính hệ số chiều sâu phòng học
    - Đo chiều cao mép trên cửa sổ​
    - Đo chiều rộng phòng học​
    - Tính hệ số chiều sâu phòng học​
    4.2. Khảo sát và đánh giá chiếu sáng nhân tạo
    - Thiết kế chiếu sáng nhân tạo (loại đèn, số lượng bóng, vị trí của bóng, độ sạch của bóng đèn, công tắc)​
    - Đo đạc độ rọi trong phòng học tại 9 điểm (1 điểm giữa lớp, 4 điểm ở giữa bàn học ở 4 góc, 1 điểm trên bàn giáo viên, 3 điểm trên bảng (1 điểm giữa bảng, 2 điểm cách mép trong và mép ngoài 20cm), tính độ đồng đều, so sánh với tiêu chuẩn​
    - Chú ý: khi đo đóng hết các cửa sổ và cửa ra vào hoặc đo vào thời điểm tối trời (ánh sáng ngoài trời dưới 3000 lux)​
    Nhận xét: Điều kiện chiếu sáng phòng học hợp vệ sinh không, những điểm tồn tại và biện pháp khắc phục.
    Nguồn Viện SKNN & MT
     

  2. Bình Luận Bằng Facebook
  3. Michealbug

    Michealbug Member

    Tham gia ngày:
    9 Tháng sáu 2019
    Bài viết:
    85
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    регистрация организаций, регистрация ооо срок,регистрация ооо действия,
    регистрация ооо москва недорого, регистрация ооо в москве срочно,
    регистрация ооо за 1 день, регистрация ооо алгоритм,
    регистрация ооо под ключ, регистрация ооо под ключ в москве недорого,
    регистрация ооо дней, регистрация ооо в москве под ключ, регистрация ооо в москве под ключ дешево
    регистрация ооо адрес налоговой, регистрация ооо под ключ цена
    регистрация ооо ключ москва
    ликвидация ооо, ликвидации ооо, ликвидация ооо с,
    ликвидировать ооо, оформить ликвидацию ооо,
    ооо ликвидация, ликвидация ооо недорого,
    ликвидация предприятия ооо, ликвидация предприятий ооо,
    полная ликвидация ооо, ооо ликвидировано
    ликвидация ооо бесплатно, ликвидация ооо ру,
    ликвидировать фирму ооо, ликвидация фирмы ооо

    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
    Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link
     

Chia sẻ trang này